(Thanh tra) Điều 36 Luật PCTN năm 2018 và Điều 10 Nghị định số 130/2020/NĐ-CP đã quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Đây là một trong những biện pháp chính của Chính phủ nhằm đảm bảo minh bạch, công khai và tăng cường giám sát tài sản, thu nhập của những người giữ vị trí có trách nhiệm quản lý, sử dụng tài sản công…
Phương thức kê khai tài sản, thu nhập được quy định trong Luật PCTN năm 2018 là một điểm mới cơ bản so với Luật PCTN năm 2005. Bởi theo quy định của Luật PCTN năm 2005 thì điểm hạn chế chính là phương thức kê khai áp dụng chung cho mọi đối tượng có nghĩa vụ kê khai dẫn đến không tập trung được nguồn lực cho việc kiểm soát chặt chẽ người có nghĩa vụ kê khai giữ chức vụ cao hoặc công tác tại các vị trí có nguy cơ xảy ra tham nhũng cao. Để khắc phục hạn chế này và phù hợp với việc mở rộng số người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập, thu hẹp cơ quan có thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập thì Điều 36 Luật PCTN năm 2018 đã quy định các phương thức kê khai áp dụng cho từng đối tượng kê khai khác nhau, gồm kê khai lần đầu, kê khai bổ sung, kê khai hằng năm và kê khai phục vụ công tác cán bộ.
- Kê khai lần đầu: Người đang giữ vị trí công tác mà thuộc đối tượng có nghĩa vụ kê khai đều phải thực hiện việc kê khai lần đầu theo quy định của Luật này nhằm hình thành đồng bộ cơ sở dữ liệu, thông tin về tài sản, thu nhập của họ. Đồng thời, tất cả cán bộ, công chức, một số viên chức hoặc ở vị trí công tác khác khi được tiếp nhận, tuyển dụng vào làm việc tại cơ quan, tổ chức, đơn vị trong khu vực nhà nước đều phải kê khai. Hình thức kê khai này hiện đang được thực hiện trong quá trình hình thành hồ sơ quản lý cán bộ. Những năm công tác tiếp theo, họ không phải kê khai tài sản, thu nhập hàng năm nếu không có căn cứ phát sinh.
- Kê khai bổ sung: Việc kê khai bổ sung chỉ được thực hiện khi người có nghĩa vụ kê khai có biến động tăng về tài sản, thu nhập có giá trị từ 300 triệu đồng trở lên.
- Kê khai hàng năm: Kê khai hằng năm chỉ áp dụng đối với 02 nhóm:
(1) Những người giữ chức vụ từ Giám đốc sở và tương đương trở lên;
(2) Người làm công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác.
Điều 10 Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 của Chính phủ đã quy định chỉ rõ các đối tượng thuộc nhóm (2) bao gồm:
“1. Các ngạch công chức và chức danh sau đây:
a) Chấp hành viên;
b) Điều tra viên phục:
c) Kế toán viên;
d) Kiểm lâm viên;
đ) Kiểm sát viên;
e) Kiểm soát viên ngân hàng;
g) Kiểm soát viên thị trường;
h) Kiểm toán viên;
i) Kiểm tra viên của Đảng;
k) Kiểm tra viên hải quan;
l) Kiểm tra viên thuế;
m) Thanh tra viên;
n) Thẩm phán.
2. Những người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác trong một số lĩnh vực được xác định trong danh mục tại Phụ lục III được ban hành kèm theo Nghị định này.
3. Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp”
- Kê khai phục vụ công tác cán bộ: Hình thức này được thực hiện đối với cán bộ, công chức; sĩ quan Công an nhân dân, sĩ quan Quân đội nhân dân, quân nhân chuyên nghiệp, người giữ chức vụ từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên công tác tại đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, người được cử làm đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp khi dự kiến bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cử giữ chức vụ khác; người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
Việc phân tách các hình thức kê khai theo mục đích quản lý, sử dụng bản kê khai giúp xây dựng Cơ sở dữ liệu đầy đủ về bản kê khai tài sản, thu nhập, đồng thời giúp hạn chế phát sinh bản kê khai hằng năm để tiến tới kiểm soát chặt chẽ, thực chất tài sản, thu nhập./.